TIN NỔI BẬT
Trang chủ / Thành tựu KHCN

Thành tựu KHCN

1. Các kết quả nghiên cứu khoa học và công nghệ

Nhiệm vụ KHCN chính của Trung tâm là phối hợp với phía Nga triển khai Kế hoạch nghiên cứu khoa học hỗn hợp được Ủy ban phối hợp về TTNĐ Việt – Nga phê duyệt theo 3 hướng ưu tiên, mỗi hướng được chia thành một số vấn đề, mỗi vấn đề có một số đề tài, nhiệm vụ. Tổng số cả 3 hướng khoảng 20- 25 đề tài, nhiệm vụ/năm. Đề tài có thể kéo dài nhiều năm theo Quyết định của UBPH.

Ngoài ra, phía Việt Nam của Trung tâm còn thực hiện các nhiệm vụ KHCN của riêng phía Việt Nam theo các chương trình, dự án, kế hoạch KHCN của Nhà nước, Bộ Quốc phòng, các Bộ ngành, địa phương.

Trung tâm đã thực hiện hàng trăm đề tài cấp cơ sở với những nghiên cứu định hướng và góp phần đào tạo cán bộ khoa học.

Nội dung nghiên cứu và kết quả chính theo các hướng như sau:

1.1. Kết quả hướng Độ bền nhiệt đới:

TTNĐ Việt- Nga đã triển khai nghiên cứu theo hướng này với một số lĩnh vực sau:

a) Thử nghiệm tự nhiên và gia tốc đánh giá độ bền nhiệt đới của vật liệu, chi tiết, cụm chi tiết

- Đã tiến hành trên 100 chương trình thử nghiệm vật liệu trong môi trường nhiệt đới Việt Nam với trên 10.000 mẫu (gồm các mẫu vật liệu kim loại và hợp kim, vật liệu composite, vật liệu cacbon, các lớp phủ bề mặt , vật liệu cao su kỹ thuật, các loại màng polyme, vải, thủy tinh hữu cơ; các loại mỡ, dầu bảo vệ, sơn phủ, phụ gia chống i sinh vật, các chất ức chế ăn mòn, vật liệu nano, vật liệu ngụy trang, nghi trang, các thiết bị, linh kiện điện tử …) do Liên Xô, LB Nga chế tạo, trong đó có các mẫu vât liệu mới ứng dụng trong ngành hàng không, vũ trụ, trong quân sự và công nghiệp. Kết quả thử nghiệm tự nhiên đã được sử dụng để đánh giá độ bền vật liệu, mức độ nhiệt đới hóa cũng như xác định tuổi thọ của vật liệu trong điều kiện khí hậu nhiệt đới. Một số đối tác ngoài Nga như Nhật Bản, Hàn Quốc cũng đã bắt đầu có hợp tác với Trung tâm trong lĩnh vực này. Thông qua hoạt động phối hợp với phía Nga, phía Việt Nam đã học tập và nắm bắt được phương pháp, cách thức tổ chức tiến hành thử nghiệm, xây dựng chương trình thử nghiệm tự nhiên và đánh giá kết quả. Đã thử nghiệm được một số mẫu vật liệu bảo quản và đang xây dựng kế hoạch mở rộng thử nghiệm vật liệu cho CNQP.

- Trung tâm đã được công nhận năng lực thử nghiệm tổng hợp (tự nhiên và gia tốc) theo tiêu chuẩn TCVN/QS 877:2010 cho các loại vật liệu dầu, mỡ, vật liệu sơn phủ và cao su.

b) Nghiên cứu đánh giá tác động của khí hậu nhiệt đới đến tình trạng vũ khí trang bị kỹ thuật, đề xuất các phương pháp bảo vệ và phương pháp khai thác tiên tiến thích hợp

Đã phối hợp với Quân chủng Phòng không – Không quân nghiên cứu đánh giá sự tác động của khí hậu nhiệt đới tới các hệ thống radar phòng không P12, P18, P37, các loại máy bay họ Su (Su-22M4, Su-27 và Su-30MK). Thực hiện hợp đồng với Văn phòng thiết kế của Hãng Sukhôi khảo sát, thống kê các hỏng hóc, xác định các bộ phận kém ổn định trong khai thác sử dụng ở điều kiện nhiệt đới, cần quan tâm trong quá trình sản xuất và khai thác sử dụng thiết bị.

c) Nghiên cứu chế tạo vật liệu và phương tiện bảo quản chống ăn mòn trong môi trường nhiệt đới. Nghiên cứu chế tạo các vật liệu đặc thù quân sự.

- Dựa trên các tài liệu công nghệ và tiêu chuẩn của Liên Xô, LB Nga, Trung tâm đã nghiên cứu phát triển, đưa vào sản xuất và ứng dụng các vật liệu niêm cất, bảo quản sử dụng trong công tác bảo đảm kỹ thuật của một số ngành kỹ thuật trong Quân đội (Cục quân khí, Cục Xe máy, Cục KT Binh chủng, Cục Hậu cần/ TCKT; Cục Xăng dầu / TCHC, …). Đã chế tạo nhiều loại dầu mỡ bảo quản: dầu súng VN.BO, dầu bảo quản động cơ VN.K17, mỡ bảo quản VN.PVK, mỡ bảo quản chịu mặn VN.AMC, mỡ cáp VN-39Y, chất chống lão hóa cao su AO-1, sơn bitum BT-97, mastic bịt kín MT-97, … Trung tâm đã nghiên cứu phát triển màng bảo quản thụ động từ nguồn dầu mỏ và dầu thực vật Việt Nam (6 sản phẩm) và có vật liệu được Liên Xô cấp bằng sáng chế.

- Đã chế tạo và áp dụng các sản phẩm ức chế bay hơi như giấy tẩm ức chế IFKHAN, ĐB-1, ĐB-2, viên ức chế VNX-29… dùng trong bảo quản các trang bị kỹ thuật như thùng nhiên liệu, nòng pháo các loại, súng bộ binh, đạn … với thời hạn bảo quản từ 3 đến 5 năm. Đã cung cấp các sản phẩm xử lý bề mặt kim loại, phục vụ công tác đảm bảo kỹ thuật của quân đội (chất photphat hóa, chất tẩy rỉ, rửa bồn bể chứa xăng dầu, chất tẩy sơn…).

- Nhiều vật liệu đặc thù quân sự cũng đã được nghiên cứu, chế tạo và áp dụng vào thực tế quân đội như chất lỏng thủy lực Steol-M, chất lỏng hãm lùi – đẩy lên POZ-70, Giấy quỳ dùng trong đánh giá chất lượng thuốc phóng bằng phương pháp Vi-ây, một số chất độc mẫu ứng dụng tại Binh chủng Hóa học, chất mồi cháy 2,4-DNR (nhà máy Z121), chất cháy quân sự triethyl nhôm, chất dập cháy etyl bromua dùng trên xe tăng thiết giáp (đã chuyển giao công nghệ cho Cục Kỹ thuật binh chủng/TCKT); hiện đang nghiên cứu điều chế phụ gia điều hòa cháy của thuốc phóng nhiên liệu rắn dietyl ferrocen (thuộc Chương trình I).

- Trung tâm cũng chủ trì, đã nghiên cứu chế tạo một số sản phẩm cao su kỹ thuật dùng trong ngành quân khí, xe máy và xăng dầu (gioăng đường ống dã chiến PMT100; gioăng hãm lùi đẩy lên pháo 85Đ44; gioăng xi lanh trợ lực lái BTR-60PB…). Sản xuất và cung cấp các loại cao su dẫn điện, chống tĩnh điện và chịu dầu cho công nghiệp hỏa thuật (nhà máy Z121).

- Ngoài ra, một hướng nghiên cứu có tiềm năng khác đang được tiến hành là điều chế một số sản phẩm hoá dược như nguyên liệu làm thuốc tim mạch isosorbid dinitrat, metoprolol tartrat và rosuvastatin; thuốc tiêm gây mê – giảm đau fentanyl, thuốc chống ung thư gefitinib, thuốc kích thích sinh inteferon…

d) Nghiên cứu phương pháp và phương tiện bảo vệ

- Đã nghiên cứu ứng dụng công nghệ điện hoá bảo vệ các loại tàu thuyền và các công trình biển, đảo bằng dòng điện ngoài cũng như anod hi sinh. Kết quả nghiên cứu đã triển khai ứng dụng để bảo vệ cầu cảng của Quân cảng Nha Trang, cầu cảng Cát Lái, cầu cảng Kiên Lương của Tập đoàn xi măng Holcim. Nghiên cứu chế tạo thiết bị tẩy hà dưới nước ứng dụng kỹ thuật cavitation – bước đầu đã được Quân chủng Hải quân cho sử dụng làm sạch vỏ tầu ngầm Hà Nội, các đệm va thủy khí và có triển vọng ứng dụng rộng rãi cho các đối tượng khác.

- Đã nghiên cứu và cung cấp cho Quân chủng Phòng không – Không quân một số loại ăng ten Radar P12, P18, P37 có ứng dụng kết quả nghiên cứu về anod hóa và nhuộm màu điện hóa hợp kim nhôm. Sản xuất chế thử các chấn tử ăng ten 1L13-3 và 55J6 theo mẫu của Liên bang Nga có nâng cao độ bền nhiệt đới.

e) Nghiên cứu thích ứng phương pháp, tiêu chuẩn và công nghệ của Liên bang Nga vào điều kiện Việt Nam.

- Tiếp nhận công nghệ đánh giá chất lượng thuốc phóng bằng phương pháp áp kế của LB Nga, phối hợp với Cục Quân khí/TCKT trong việc thích ứng,  chuyển giao thiết bị Vulcan, Lava và tiêu chuẩn từ Nga vào Việt Nam. Hiện Trung tâm và các đơn vị liên quan tiếp tục thí nghiệm 17.000 mẫu thuốc phóng phục vụ biên soạn mới tiêu chuẩn áp kế phù hợp với các sản phẩm thuốc phóng do Việt Nam sản xuất, dự kiến hoàn thành trong năm 2014.

- Thiết bị kiểm tra và đánh giá tình trạng kỹ thuật động cơ máy bay họ Su (Su22-M4, Su27,Su30) đã được Trung tâm phối hợp với phía Nga nghiên cứu phát triển và áp dụng tại Quân chủng PK-KQ, được Quân chủng đánh giá tốt.

- Trung tâm hiện đang phối hợp với Cục Xăng dầu/ TCHC, Nhà máy Lọc dầu Dung Quất và Viện Hóa động cơ số 25/ Bộ Quốc phòng LB Nga để biên soạn tiêu chuẩn mới và điểu chỉnh công nghệ của Nhà máy Lọc dầu Dung Quất nhằm sản xuất nhiên liệu phản lực JET-A1K, nhiên liệu diesel L-62 dùng cho máy bay quân sự và tàu chiến hiện đại đáp ứng tiêu chuẩn quân sự của LB Nga. Công việc đã được nghiệm thu giai đoạn 1, giai đoạn 2 dự kiến hoàn thành trong quý III năm 2014, cho phép Việt Nam đủ điều kiện để chủ động sản xuất hai loại nhiên liệu này.

Trong hướng độ bền nhiệt đới đội ngũ cán bộ khoa học đã học tập, tiếp thu và chuyển giao nhiều phương pháp từ chuyên gia Nga, tiếp cận khai thác tài liệu kỹ thuật của LB Nga, áp dụng phục vụ nhu cầu của Việt Nam. Các kết quả nghiên cứu của hướng độ bền đã được thể hiện qua hàng trăm bài báo được đăng tải trên các tạp chí khoa học công nghệ và kỷ yếu hội nghị trong và ngoài nước.

1.2. Kết quả hướng Sinh thái nhiệt đới và bảo vệ môi trường:

a) Nghiên cứu khoa học về sinh thái: đa dạng sinh học và tổ chức cấu trúc- chức năng các hệ sinh thái, diễn thế, ảnh hưởng yếu tố nhân sinh đến hệ sinh thái

        Đây là nội dung hiện được phía Nga đặc biệt quan tâm và đầu tư nhân lực. Hàng năm, phía Nga cử hàng trăm lượt cán bộ sang làm việc tại Trung tâm tham gia điều tra, nghiên cứu thực địa và  nghiên cứu trong phòng thí nghiệm.

Đã triển khai nghiên cứu trên hầu hết các hệ sinh thái điển hình của Việt Nam, từ hệ sinh thái miền đồng bằng, cao nguyên đến các hệ sinh thái vùng núi cao cùng hệ thống đảo ven bờ; từ vùng biển vịnh Hạ Long kéo dài đến vùng biển Kiên Giang trong vịnh Thái Lan. Tính đến nay, Trung tâm đã tiến hành nghiên cứu tại 19/31 Vườn Quốc gia (VQG) và 16/58 Khu Bảo tồn (KBT) cùng nhiều khu vực sinh quyển đặc trưng của Việt Nam.

  Các kết quả đã góp phần làm sáng tỏ cơ chế hình thành và động lực phát triển của khu hệ động, thực vật trong mối quan hệ với điều kiện sinh thái theo từng vùng địa lý; đã giải thích cho tính chất phong phú, đa dạng, tính đặc hữu và quý hiếm của động – thực vật của nhiều VQG, KBT và các kiểu hệ sinh thái đặc trưng cho vùng cát ven biển, hệ sinh thái đảo. Phía Nga đã kiểm chứng và khẳng định sự phù hợp về mặt phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu sinh thái của trường phái khoa học Nga khi nghiên cứu tại Việt Nam ở cấp độ quần thể, quần xã và hệ sinh thái. Bằng số liệu cụ thể, đã khẳng định, Việt Nam là mô hình mẫu về đa dạng sinh thái của khu vực Đông Nam Á. Thông qua nghiên cứu những tác động của chiến tranh hóa học và những tác động nhân sinh khác, đã rút ra được những kết luận về tính quy luật phát triển và diễn thế hệ sinh thái tự nhiên của Việt Nam trong mối quan hệ với các hoạt động của con người. Các kiến thức này có thể làm cơ sở cho các hoạt động quản lý, khai thác và bảo tồn tài nguyên sinh vật.

Thông qua nghiên cứu hỗn hợp Việt- Nga về sinh thái, Trung tâm đã giúp cho nhiều VQG, KBT của Việt Nam có cơ sở khoa học xây dựng kế hoạch, dự án bảo tồn và quản lý tài nguyên sinh vật như VQG Hoàng Liên, Phong Nha – Kẻ Bàng, Ngọc Linh, Chư Yang Sin, Bidoup – Núi Bà, Cát Tiên. Nhiều VQG, KBT đã sử dụng có hiệu quả kết quả nghiên cứu của Trung tâm trong hoạt động của mình, đó là VQG Phong Nha – Kẻ Bàng để đề nghị công nhận là Di sản thiên nhiên thế giới (thuộc tiêu chí 10 – Đa dạng sinh học), VQG Hoàng Liên trong đề nghị công nhận Di sản thiên nhiên Châu Á, VQG Cát Tiên đề nghị UNESCO công nhận là Di sản thiên nhiên thế giới, VQG Bidoup – Núi Bà trong lập dự án quốc tế đầu tư phát triển bền vững vùng đệm gắn với bảo tồn đa dạng sinh học…. Trong lĩnh vực nghiên cứu các hệ sinh thái rừng Việt Nam, Trung tâm đã hợp tác với nhiều tổ chức quốc tế như: Tổ chức bảo vệ động vật hoang dã (WWF), Liên minh quốc tế về bảo tồn thiên nhiên (IUCN), Tổ chức động- thực vật quốc tế (FFI), Tổ chức chim quốc tế (Birdlife)…

Trong lĩnh vực đa dạng sinh học và sinh thái biển, Trung tâm tập trung nghiên cứu khu vực Vịnh Hạ Long, Vịnh Lan Hạ, vịnh Nha Trang và một số khu vực ven biển miền Trung. Tính đến nay, Trung tâm đã tổ chức và tham gia khảo sát nghiên cứu ở 12/16 khu bảo tồn biển của Việt Nam. Đã định danh trên 400 loài thực vật và trên 150 loài động vật phù du, trên 160 loài cá, 900 loài động vật đáy; xây dựng được bản đồ phân bố, tổ chức cấu trúc – chức năng của quần xã phiêu sinh vùng vịnh Nha Trang và một số khu vực biển ven bờ khác. Nghiên cứu về bệnh trên trứng cá, cá con cho phép xác định nguyên nhân gây bệnh do nhiễm nội ký sinh trùng và đề xuất biện pháp khắc phục. Đã thử nghiệm nuôi trồng san hô tại khu vực Đầm Báy, đảo Hòn Mun (nuôi trồng trên 1.000 nhánh san hô thuộc 15 loài san hô cứng, từ đó chọn được 4 loài triển vọng cho việc nuôi trồng nhân tạo), đã bước đầu xây dựng được quy trình công nghệ nuôi trồng phục hồi các rạn san hô, sau 2-3 năm thử nghiệm tỷ lệ sống đạt 95%, cá biệt có nơi độ tăng trưởng đạt 25 cm/năm.

Đã nghiên cứu về thành phần loài, tập tính sinh học làm cơ sở thuần dưỡng, huấn luyện một số loài cá heo biển Đông Việt Nam. Hiện đang nghiên cứu ứng dụng công nghệ sinh học phân tử để nghiên cứu, chọn lọc và lai tạo giống chó bản địa, lựa chọn tính trạng trội cho việc huấn luyện chó nghiệp vụ thích nghi trong điều kiện nhiệt đới phục vụ phát hiện chất ma túy, thuốc nổ, cứu hộ.

Các nghiên cứu về độc học sinh thái biển tại Vịnh Nha Trang cho thấy quần thể sinh vật đáy Vịnh Nha Trang đang nghèo đi (70% so 20 năm trước đây), nguyên nhân: ô nhiễm do hoạt động dân sinh, trầm tích đáy, các chất độc học sinh thái từ sông Cái đổ ra vịnh.

Về sinh thái nước ngọt: tập trung nghiên cứu sự đa dạng sinh học cá trong các lưu vực sông. Đã ghi nhận trên 350 loài tại các sông thuộc khu vực miền Trung, sông Hồng với trên 80 loài, Côn Đảo với 24 loài, Phú Quốc với gần 100 loài. Đã làm sáng tỏ quy luật di cư của trứng cá- cá con trong hệ thống “sông – cửa sông – biển”; phát hiện quy mô và nguyên nhân cá chết ở các hồ, đập thủy điện, thủy lợi. Trên cơ sở đó, đã soạn thảo, kiến nghị việc thiết kế xây dựng, vận hành các đập thủy điện nhằm bảo vệ nguồn lợi trong các hồ chứa công trình thuỷ điện ở Việt Nam.

b) Nghiên cứu ảnh hưởng và khắc phục hậu quả của chất độc hoá học da cam/dioxin và các chất hữu cơ bền vững đến môi trường tự nhiên

Lĩnh vực nghiên cứu khắc phục hậu quả chất độc hóa học do Mỹ sử dụng trong chiến tranh ở Việt Nam là nội dung ưu tiên được đặt ra khi thành lập Trung tâm. Trong giai đoạn đầu, cùng với phía Nga đã nghiên cứu đánh giá mức độ ô nhiễm và sự lan tỏa của dioxin trong một số vùng bị phun rải chất độc da cam/dioxin trong chiến tranh. Từ năm 1996, phía Việt Nam của Trung tâm đã chủ trì và tham gia thực hiện đánh giá tồn lưu chất độc da cam/dioxin tại các sân bay: Biên Hòa (dự án Z1), Đà Nẵng (dự án Z2), Phù Cát (dự án Z3), 7 sân bay (dự án Z9), 8 nhiệm vụ thuộc Chương trình 33 và nhiều đề tài, dự án của nhà nước, các bộ ngành, tổ chức quốc tế. Thực hiện quan trắc, phân tích đánh giá chất lượng môi trường tại các điểm nóng ô nhiễm nặng dioxin ở Việt Nam; quan trắc môi trường trong quá trình USAID thực hiện xử lý ô nhiễm dioxin tại sân bay Đà Nẵng; đánh giá các nguồn phát thải dioxin và hiệu quả một số công nghệ xử lý dioxin.

Trong sự phối hợp với phía Nga, Trung tâm đã xây dựng phòng thí nghiệm phân tích, đào tạo đội ngũ cán bộ, nghiên cứu ứng dụng các quy trình, phương pháp phân tích hiện đại. Từ năm 2010, Phòng phân tích dioxin đã được đầu tư chiều sâu với cơ sở vật chất đồng bộ, hiện đại và đã được cấp Chứng chỉ công nhận phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế ISO/IEC 17025:2005. Trung tâm đã phân tích trên 4.500 mẫu dioxinphục vụ cho việc làm rõ mức độ ô nhiễm chất độc da cam/dioxin tại Việt Nam; xác định được các khu vực bị ô nhiễm nặng ở ba sân bay Biên Hòa, Đà Nẵng, Phù Cát. Xác định các hướng lan tỏa chất độc, diện tích, chiều sâu, khối lượng đất, trầm tích cần phải tẩy độc, kiến nghị các biện pháp xử lý. Kết quả phân tích góp phần làm cơ sở để Bộ Quốc phòng, các tổ chức quốc tế xem xét triển khai các dự án xử lý môi trường tại các khu vực bị ô nhiễm nặng dioxin.

c) Nghiên cứu đánh giá tác động môi trường, xây dựng các giải pháp, công nghệ bảo vệ môi trường:

Các nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu định hướng ứng dụng trong khuôn khổ hợp tác với phía Nga là tiền đề tiến hành các nghiên cứu ứng dụng của Trung tâm phục vụ trực tiếp cho phía Việt Nam và hoạt động quân sự – quốc phòng. Đã nghiên cứu, xây dựng được quy trình phục hồi và thử nghiệm trồng san hô trong điều kiện biển miền Trung; nghiên cứu, phát triển nuôi trồng các loài thủy hải sản có giá trị và bảo tồn nguồn gen cây con thuốc: tôm, cá trê vàng tam bội, hải sâm, bào ngư, cá ngựa đen, sá sùng đồi mồi; xây dựng quy trình trồng cây chịu hạn, chống sa mạc hoá khu vực bán đảo Cam Ranh và đất quốc phòng địa bàn tỉnh Khánh Hoà; nghiên cứu, xây dựng giải pháp quản lý, sử dụng có hiệu quả rừng và đất lâm nghiệp do quân đội quản lý với hệ thống bản đồ quản lý không gian cho một số đơn vị là trường bắn, kho tàng và khu kinh tế quốc phòng; xây dựng và triển khai mô hình sản xuất rau xanh nhà kính cho quân và dân trên huyện đảo Trường Sa; nghiên cứu, đánh giá ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến công trình và hoạt động quân sự ở cấp Quân khu, khu vực phòng thủ cấp tỉnh, đề xuất giải pháp ứng phó, giảm thiểu; đánh giá môi trường trong các hang động quân sự; xây dựng Tháp quan trắc biến đổi khí hậu tại VQG Cát Tiên, tham gia hệ thống quan trắc biến đổi khí hậu toàn cầu, đánh giá vai trò của hệ sinh thái nhiệt đới đối với biến đổi khí hậu khu vực.

Đã nghiên cứu, thử nghiệm chế tạo phòng an toàn bức xạ và tủ hút phóng xạ bằng vật liệu mới; nghiên cứu sản xuất nhiều thiết bị bảo vệ môi trường, bao gồm thiết bị lọc nước phục vụ cho sinh hoạt của các đơn vị quân đội và các cụm dân cư, thiết bị lọc nước dã chiến, thiết bị lọc nước siêu tinh khiết dùng pha dịch truyền, các thiết bị Box, Hote vô trùng và trang thiết bị Phòng thí nghiệm; triển khai công nghệ xử lý rác thải bệnh viện; hệ thống xử lý n­ước cấp, nước thải, v.v…

Từ kết quả nghiên cứu hướng sinh thái, đã công bố trên 800 ấn phẩm khoa học, trong đó có hàng trăm bài báo quốc tế, hàng chục sách chuyên khảo bằng tiếng Nga, tiếng Anh và tiếng Việt. Điển hình như các chuyên khảo: “Các hệ sinh thái cạn của Việt Nam”, “Khu hệ Dơi lãnh thổ Việt Nam và phụ cận”, “Rừng cây họ Dầu Nhiệt đới Việt Nam”, “Động vật có vú Việt Nam”, “Đa dạng sinh học và đặc trưng sinh thái VQG Bidoup – Núi bà”, “Đa dạng sinh học vùng núi Phan- xi- pan”, “Cá Việt Nam”, “Đa dạng sinh học KBT Ngọc Linh”, “Đa dạng sinh học KBT Vũ Quang”...

1.3. Kết quả hướng Y sinh nhiệt đới:

a) Nghiên cứu hậu quả y sinh học lâu dài của chất độc sinh thái chứa dioxin đối với sức khỏe con người:

- Đây là hướng nghiên cứu trọng tâm khi thành lập Trung tâm, đáp ứng nhu cầu nghiên cứu khoa học về dioxin của Nga và phục vụ cho việc điều trị khắc phục hậu quả dioxin đối với sức khỏe con người của Việt Nam. Đã xây dựng phương pháp luận dựa trên các nghiên cứu điều tra và xét nghiệm nồng độ dioxin ở trong mẫu sinh học và môi trường nhằm phát hiện, đánh giá và nhận biết hậu quả y sinh học lâu dài của chất da cam/dioxin đối với con người. Đã xây dựng và đề xuất quy trình, phương pháp điều tra, điều trị dự phòng và phục hồi sức khoẻ cho nạn nhân bị phơi nhiễm chất da cam/dioxin.

- Qua nghiên cứu đã đưa ra được những đặc điểm y sinh học và bệnh lý của người bị phơi nhiễm da cam/dioxin, đánh giá được mối quan hệ nhân quả giữa sự phơi nhiễm dioxin và bệnh tật, khả năng miễn dịch của nạn nhân và các thế hệ con cháu họ sinh ra sau chiến tranh. Đồng thời phân tích, đánh giá vai trò của các yếu tố di truyền và các tác nhân môi trường, tăng nguy cơ gây ra dị tật bẩm sinh trong các gia đình sống ở vùng bị rải chất da cam/dioxin, những tổn hại sức khoẻ đa dạng, đa hướng, đa hình thái, gây biến đổi về gen và cân bằng nội môi.

- Trong giai đoạn 2006-2010, Trung tâm đã phối hợp với Hội nạn nhân chất độc da cam/dioxin Việt Nam tiến hành lập hơn 200 bộ hồ sơ cá nhân của những người bị phơi nhiễm chất độc da cam/dioxin đang sinh sống tại các tỉnh Bình Dương, Đồng Nai và Quảng Trị phục vụ cho vụ kiện các công ty hoá chất Hoa Kỳ đã sản xuất, cung cấp chất diệt cỏ cho quân đội Mỹ sử dụng trong chiến tranh ở Việt Nam.

Các kết quả nghiên cứu cũng đã được tổng hợp và báo cáo tại Hội thảo khoa học Việt- Mỹ về ảnh hưởng của chất da cam/dioxin lên sức khoẻ con người và môi trường tại Hà Nội (tháng 3 năm 2002, tháng 3 năm 2011), Hội thảo Quốc tế về “Môi trường và sức khoẻ con người” tại Saint-Peterburg (tháng 6 năm 2003, tháng 6 năm 2007), được đăng trên các sách báo, tạp chí trong nước và nước ngoài, đã xuất bản 2 cuốn sách chuyên khảo “Dioxin ở Việt Nam-2003” và “Dioxin-chất siêu độc sinh thái thế kỷ XXI” (Mát-xcơ-va 2003).

b) Nghiên cứu các bệnh truyền nhiễm nhiệt đới:

- Kết quả nghiên cứu dịch hạch tại khu vực Tây Nguyên cho thấy: khu vực Tây Nguyên không có ổ dịch thiên nhiên hoang dã, mà chỉ tồn tại ổ dịch thứ phát vùng dân cư hay “ổ dịch gần người”. Kết luận này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc vạch ra chiến lược phòng chống dịch hạch ở Tây Nguyên nói riêng và ở Việt Nam nói chung, cũng như có ý nghĩa về mặt y – sinh quân sự.

Đã xác định được 19 loài thú nhỏ tiếp xúc với vi khuẩn dịch hạch, trong đó có loài chuột nhắt (Ratus Exulans) và chuột bông (Ratus Nitidus) là những loài chuột sống gần người và là vật chủ quan trọng nhất. Vật trung gian truyền bệnh là bọ chét X.Cheopis. Kết quả nghiên cứu về dịch hạch ở Tây Nguyên đã được công bố trong cuốn sách chuyên khảo: “Dịch hạch-nguồn gốc và quá trình tiến hoá của hệ thống dịch động vật” (V.V. Suntsov, Nguyễn Ái Phương, Đặng Tuấn Đạt-2005).

Ngoài ra Trung tâm còn phối hợp với Viện Nghiên cứu dịch tễ Trung ương Nga và các cơ sở nghiên cứu trong nước (Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương, Viện vệ sinh phòng dịch quân đội, Viện Lao phổi Trung ương) nghiên cứu cúm gia cầm H5N1, sốt mò (tsutsugamushi), lao kháng thuốc, sốt xuất huyết. Các công trình nghiên cứu trong lĩnh vực các bệnh truyền nhiễm nhiệt đới có ý nghĩa thiết thực trong công tác bảo vệ sức khoẻ cho bộ đội và nhân dân.

c) Nghiên cứu Y học quân binh chủng:

- Nghiên cứu khả năng thích nghi của phi công quân sự Việt Nam đã được Trung tâm thực hiện với sự cộng tác của các chuyên gia Học viện Quân y Kirov, Viện Các vấn đề y sinh và Viện Y học lao động/ Viện HLKH Nga, Viện Y học Hàng không/Quân chủng Phòng không- Không quân. Đã xác định được mối tương quan giữa thời gian phục vụ và sự suy giảm dự trữ sinh lý của hệ hô hấp, tim mạch, suy giảm hoạt động cơ, đề xuất một số biện pháp bảo vệ sức khoẻ và kéo dài tuổi bay cho phi công. Đã soạn thảo: “Hướng dẫn về y học thực hành nhằm phục hồi sức khoẻ cho phi công quân sự Việt Nam” và chuyển giao cho Quân chủng PK-KQ.

- Nghiên cứu sức khỏe bộ đội hải quân: Đã tổ chức Hội thảo khoa học Việt-Nga về bảo đảm sức khỏe nghề nghiệp cho thủy thủ tàu ngầm (vào tháng 12/2013). Được phép của Bộ Quốc phòng, Trung tâm đang phối hợp với Học viện Quân y Kirov, Tổng cục Quân y/ BQP LB Nga và các cơ sở trong nước (Cục Quân y, Học viện Quân y và Quân chủng Hải quân) để soạn thảo bộ tài liệu hướng dẫn công tác quân y cho bộ đội tàu ngầm. Dự kiến nhiệm vụ sẽ hoàn thành vào quý III năm 2014.

d) Nghiên cứu về  Y-dược học nhiệt đới:

Trung tâm triển khai nghiên cứu tách chiết các hoạt chất sinh học phục vụ làm thuốc, sản xuất thực phẩm chức năng từ động vật, thực vật: Hoàn thiện phương pháp chiết xuất artemizinin, xây dựng công nghệ sản xuất agar, nghiên cứu phương pháp điều chế agaroza và papain từ nguyên liệu sẵn có; các hoạt chất sinh học từ tu hài, sao biển; chế phẩm mật tằm hỗ trợ điều trị u phì đại lành tính tuyến tiền liệt …

e) Nghiên cứu ứng dụng các kỹ thuật và chuyển giao công nghệ từ LB Nga vào Việt Nam để điều trị phục hồi sức khoẻ bộ đội và nhân dân:

- Điều trị bằng ô xy cao áp: Từ những năm đầu thành lập Trung tâm đã nhận chuyển giao từ Nga công nghệ và ứng dụng liệu pháp ô xy cao áp vào thực hành y tế tại Việt Nam trong phục hồi sức khỏe và phối hợp điều trị bệnh. Đã xây dựng 01 Trung tâm ô xy cao áp có uy tín tại thành phố Hồ Chí Minh và triển khai 01 trung tâm điều trị tại Cơ sở chính từ năm 2011, tư vấn, hỗ trợ kỹ thuật và đào tạo chuyên môn cho một số cơ sở y tế khác. Liệu pháp ô xy cao áp được ứng dụng có hiệu quả trong hỗ trợ điều trị đối với nhiều bệnh, tiêu biểu là bệnh giảm áp của thợ lặn, điếc đột ngột, thiểu năng tuần hoàn não, bệnh nhân sau đột quỵ, loét ngoài da lâu liền, trẻ em tự kỷ…, đã điều trị cho hàng ngàn bệnh nhân đạt kết quả tốt.

- Các chế phẩm peptide điều hoà sinh học của Viện Lão khoa và Điều hòa sinh học Saint Petersburg được chiết xuất từ phủ tạng động vật có tác dụng điều hòa và tăng cường một số chức năng của cơ thể đã được ứng dụng điều trị miễn phí cho 50 cựu chiến binh Quận Cầu Giấy vào năm 2002, đạt kết quả khả quan. Năm 2009, đã sử dụng để hỗ trợ điều trị cho cựu chiến binh ở tỉnh Thái Bình bị ảnh hưởng của chất da cam/dioxin thuộc nhóm suy giảm miễn dịch và phì đại lành tính tuyến tiền liệt, kết quả sức khỏe được cải thiện rõ rệt, nâng cao sức đề kháng và tăng cường khả năng miễn dịch. Trung tâm đã được xác định là đại diện duy nhất của Viện Lão khoa và Điều hòa sinh học Saint Petersburg ở Việt Nam.

2. Các sản phẩm khoa học và công nghệ chủ yếu

Các sản phẩm chủ yếu ở dạng mẫu, sản phẩm, phương pháp, tiêu chuẩn…(dạng 1, 2) phục vụ quân sự – quốc phòng từ hoạt động KHCN của TTNĐ Việt- Nga bao gồm 29 chủng loại vật liệu, phương tiện bảo quản; 02 sản phẩm phục vụ kiểm soát chất lượng thuốc phóng; 06 sản phẩm từ việc chuyển giao công nghệ từ LB Nga nhiệt đới hóa trang thiết bị; 12 sản phẩm từ quá trình nghiên cứu xử lý môi trường và một số sản phẩm khác; các sản phẩm, quy trình đã được tiêu chuẩn hóa trong số 3 tiêu chuẩn quốc gia (TCVN), 34 tiêu chuẩn quốc gia áp dụng trong lĩnh vực quân sự quốc phòng (TCVN/QS) và 31 tiêu chuẩn cơ sở.

Các sản phẩm từ hoạt động nghiên cứu khoa học hỗn hợp Việt- Nga của Trung tâm bao gồm nhiều sản phẩm là bài báo khoa học, sách chuyên khảo, đào tạo cán bộ (dạng 3, dạng 4): Đã có tổng số trên 1000 bài báo khoa học được công bố trên các tạp chí trong và ngoài nước; gần 30 đầu sách chuyên khảo, nhiều cán bộ khoa học của LB Nga và Việt Nam bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ, Tiến sĩ khoa học có sử dụng kết quả nghiên cứu của Trung tâm; trong đội ngũ cán bộ khoa học phía Việt Nam của Trung tâm đã được tiếp cận phương pháp cũng như học tập chuyên môn từ các đồng nghiệp Nga.

3. Tiềm lực KHCN

Những năm đầu kể từ khi thành lập, trang thiết bị phòng thí nghiệm của TTNĐ Việt- Nga chủ yếu do phía Liên Xô đầu tư. Từ năm 2000 đến nay các trang thiết bị thí nghiệm, thử nghiệm của TTNĐ Việt- Nga được đầu tư bằng nguồn kinh phí của cả hai phía (phần lớn của phía Việt Nam). Hiện tại Trung tâm có 22 phòng thí nghiệm, 3 trạm thử nghiệm khí hậu (trong đó có Trạm nghiên cứu thử nghiệm biển tại vịnh Nha Trang), 1 Trung tâm chuyển giao công nghệ mới, 1 Xí nghiệp sản xuất vật liệu, 2 trung tâm điều trị oxy cao áp.

Hiện tại, đội ngũ cán bộ nghiên cứu khoa học phía Việt Nam của Trung tâm gồm gần 200 người, trong đó hơn một nửa có trình độ trên đại học.

Theo chức danh chuyên môn kỹ thuật đã được công nhận nhiều nghiên cứu viên cao cấp, nghiên cứu viên chính, và nghiên cứu viên, số còn lại là trợ lý nghiên cứu.

Hàng năm số cán bộ Nga tham gia nghiên cứu khoa học tại Trung tâm hàng trăm lượt người, bao gồm cả cán bộ công tác thường xuyên và số cán bộ sang công tác theo nhiệm vụ khoa học.

* ĐÁNH GIÁ CHUNG

Mặc dù phải trải qua thời kì hết sức khó khăn và phức tạp nhưng được sự lãnh đạo, chỉ đạo thường xuyên của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và Uỷ ban phối hợp, sự phối hợp của các Bộ, Ngành 2 nước Việt Nam và Nga, sự phấn đấu của cán bộ, công nhân viên Trung tâm cả Việt Nam và Nga, TTNĐ Việt – Nga đã thu được những kết quả quan trọng sau đây:

  1. TTNĐ Việt – Nga đã được xây dựng và phát triển thành một cơ sở hợp tác nghiên cứu khoa học và công nghệ đa ngành về nhiệt đới với LB Nga với vị thế và nhiệm vụ ngày càng được khẳng định.
  2. Kế hoạch nghiên cứu khoa học dài hạn và hàng năm của Trung tâm mang tính cơ bản, có định hướng ứng dụng, đáp ứng yêu cầu phát triển KHCN của hai nước, đã thu được nhiều kết quả khả quan, điển hình là các lĩnh vực khắc phục hậu quả chất độc hóa học, sinh thái môi trường, vật liệu và phương tiện bảo quản, chuyển giao công nghệ từ LB Nga…
  3. Chức năng phối hợp, cầu nối trong hoạt động nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ và dịch vụ khoa học kỹ thuật của Trung tâm ngày càng được khẳng định, góp phần thúc đẩy hợp tác khoa học kỹ thuật Việt Nga, đóng góp tích cực vào việc củng cố, phát triển mối quan hệ đối tác chiến lược giữa Việt Nam và Liên bang Nga.
  4. Bước đầu hình thành được đội ngũ cán bộ khoa học chuyên môn theo các lĩnh vực nghiên cứu, một số tập thể cán bộ khoa học Việt – Nga có khả năng đề xuất và giải quyết nhiệm vụ một cách cơ bản, sẵn sàng nhận và hoàn thành các nhiệm vụ được giao. Sự gắn kết giữa công tác đào tạo cán bộ khoa học với các hoạt động nghiên cứu đã được triển khai có hiệu quả. Xây dựng và ổn định nơi làm việc, các phòng thí nghiệm, các cơ sở thử nghiệm và sản xuất với các trang thiết bị ngày càng hiện đại, đồng bộ.

Những kết quả hoạt động của TTNĐ Việt – Nga trong trong những năm qua cho thấy, đây là mô hình tổ chức mới, ngày càng thể hiện tính hiệu quả trong hợp tác KH&CN giữa hai nước Việt Nam và LB Nga.

Tuy nhiên, trong hoạt động KHCN của TTNĐ Việt – Nga vẫn còn có những khó khăn và còn có những mặt hạn chế, đó là:

- Chưa phát huy hết lợi thế của Trung tâm, còn gặp nhiều khó khăn trong xác định nhiệm vụ hợp tác về KHCN ở cấp 2 nhà nước.

- Sự phát triển của các hướng nghiên cứu chưa đều, chưa nghiên cứu chuyển giao được nhiều công nghệ, nhất là công nghệ phục vụ quốc phòng từ LB Nga vào Việt Nam.

- Cán bộ khoa học của phía Việt Nam của Trung tâm còn thiếu về số lượng, trình độ chuyên môn và ngoại ngữ (tiếng Nga) chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, số cán bộ khoa học đầu đàn và năng lực đề xuất nhiệm vụ còn hạn chế. Việc tuyển cán bộ khoa học vào TTNĐ Việt – Nga còn gặp nhiều khó khăn, chưa tận dụng được tiềm năng khoa học phía Nga của Trung tâm để đào tạo cán bộ cho Việt Nam.

- Việc tiếp cận và tham gia giải quyết các nhiệm vụ của BQP chưa được nhiều.

- Phía Nga vẫn còn gặp nhiều khó khăn trong việc thực hiện trách nhiệm về bảo đảm tài chính, cán bộ… cho hoạt động của Trung tâm.

- Quy chế về TTNĐ Việt – Nga chậm được đổi mới  trong khi tình hình đã thay đổi ở hai nước, do đó đã có ảnh hưởng lớn đến hoạt động của TTNĐ Việt – Nga. Trong khuôn khổ Quy chế và cơ chế hiện hành phía Việt Nam gặp nhiều khó khăn trong việc khai thác, tranh thủ chất xám và công nghệ của Bạn.

- Sự khác biệt giữa cơ chế quản lý KHCN của hai phía cũng là khó khăn trong triển khai nhiệm vụ với sự phối hợp của 2 phía.

 

Trung tâm Nhiệt đới Việt – Nga