Ghi nhận 168 loài chim tại Vườn quốc gia Bái Tử Long, bổ sung dữ liệu phục vụ bảo tồn đa dạng sinh học
09/10/2026Sáng 6/10, tại Hà Nội, Trung tâm Nhiệt đới Việt – Nga tổ chức Hội đồng khoa học và công nghệ nghiệm thu đề tài cấp Trung tâm “Nghiên cứu thành phần loài chim và đề xuất các giải pháp bảo tồn khu hệ chim Vườn quốc gia Bái Tử Long, tỉnh Quảng Ninh”. Đề tài do Viện Sinh thái Nhiệt đới chủ trì, Thượng tá Phạm Hồng Phương làm chủ nhiệm, được thực hiện trong giai đoạn 2024–2026.
Đại tá, TS. Phạm Duy Nam, Phó Tổng Giám đốc Trung tâm, Chủ tịch Hội đồng, chủ trì phiên họp. Tham dự có các thành viên Hội đồng, đại diện cơ quan quản lý khoa học, đơn vị chủ trì và nhóm nghiên cứu thực hiện đề tài.
Đại tá, TS. Phạm Duy Nam, Phó Tổng Giám đốc Trung tâm, Chủ tịch Hội đồng, chủ trì phiên họp.
Kết quả nghiên cứu của Trung tâm Nhiệt đới Việt - Nga đã ghi nhận 168 loài chim tại Vườn quốc gia Bái Tử Long, trong đó có nhiều loài quý, hiếm và có giá trị bảo tồn. Đáng chú ý, 100 loài trong số này là chim di cư. Kết quả góp phần bổ sung cơ sở dữ liệu khoa học phục vụ theo dõi, quản lý và bảo tồn đa dạng sinh học tại khu vực.
Khu hệ chim đa dạng với 168 loài được ghi nhận
Báo cáo trước Hội đồng, Thượng tá Phạm Hồng Phương cho biết qua các đợt khảo sát thực địa, nhóm nghiên cứu đã ghi nhận 168 loài chim thuộc 118 giống, 52 họ và 16 bộ tại Vườn quốc gia Bái Tử Long. Trong đó, chim rừng có 122 loài, chiếm 72,62%; chim nước có 46 loài, chiếm 27,38%.
Một kết quả đáng chú ý là trong tổng số loài được ghi nhận có 68 loài định cư và 100 loài di cư. Kết quả này cho thấy bên cạnh các loài cư trú thường xuyên, khu vực Bái Tử Long còn là nơi hiện diện của một số lượng đáng kể các loài chim di cư. Đây là nhóm cần được quan tâm trong công tác theo dõi và bảo tồn, đặc biệt trong bối cảnh các sinh cảnh tự nhiên ven biển có vai trò đối với nhiều loài chim trong quá trình di cư.
Chủ nhiệm đề tài báo cáo kết quả nghiên cứu trước Hội đồng.
Số lượng loài ghi nhận có sự khác biệt rõ giữa các sinh cảnh. Trong phạm vi khảo sát của đề tài, sinh cảnh nông nghiệp và rừng lá rộng thường xanh núi đất ghi nhận số loài cao nhất, khoảng 110–112 loài. Trong khi đó, tại các sinh cảnh như rạn san hô, tùng áng và thảm cỏ biển, số loài chim ghi nhận dao động từ 2 đến 11 loài.
Sự khác biệt này cung cấp thêm thông tin về sự phân bố của các nhóm chim theo sinh cảnh, qua đó hỗ trợ việc xác định các khu vực cần ưu tiên trong hoạt động theo dõi và bảo tồn.
Nhiều loài có giá trị bảo tồn
Đáng chú ý, nghiên cứu xác định 21 loài chim quý, hiếm có giá trị bảo tồn. Trong đó, ba loài có tên trong Sách đỏ Việt Nam 2024 gồm Rẽ cổ hung, Choắt mỏ cong lớn và Sẻ đồng ngực vàng; sáu loài thuộc Danh lục đỏ IUCN 2025.
Trong số các loài được ghi nhận, Sẻ đồng ngực vàng được xếp ở mức Cực kỳ nguy cấp (Critically Endangered – CR), trong khi Rẽ mỏ rộng ở mức Sẽ nguy cấp (Vulnerable – VU) theo thông tin được nhóm nghiên cứu báo cáo.
Rẻ cổ hung(Calidris ruficolis).
Choắt mỏ cong lớn(Numenius arquata).
Sẻ đồng ngực vàng(Emberiza aureola).
Việc xác định sự hiện diện và phân bố của các loài có giá trị bảo tồn là một trong những cơ sở khoa học quan trọng để cơ quan quản lý xây dựng chương trình giám sát dài hạn, xác định sinh cảnh ưu tiên và triển khai các biện pháp bảo vệ phù hợp.
Từ kết quả nghiên cứu đến công tác bảo tồn
Không chỉ xây dựng danh lục thành phần loài, nhóm nghiên cứu đã hình thành cơ sở dữ liệu về khu hệ chim tại Vườn quốc gia Bái Tử Long và đề xuất các nhóm giải pháp phục vụ quản lý, bảo tồn. Các giải pháp tập trung vào hoàn thiện cơ chế, chính sách; xác định những khu vực cần ưu tiên bảo tồn; đồng thời tăng cường ứng dụng khoa học và công nghệ trong theo dõi, giám sát các loài chim.
Đây cũng là hướng giúp chuyển các kết quả điều tra đa dạng sinh học từ những số liệu khảo sát đơn lẻ thành nguồn dữ liệu có thể tiếp tục cập nhật và sử dụng trong công tác quản lý lâu dài.
Hướng tới xây dựng Atlas các loài chim Bái Tử Long
Tại phiên họp, các thành viên Hội đồng đánh giá kết quả nghiên cứu, trao đổi về những nội dung cần tiếp tục hoàn thiện nhằm nâng cao giá trị khoa học và khả năng ứng dụng của sản phẩm đề tài.
TS. Nguyễn Cử, nguyên cán bộ Viện Sinh học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Ủy viên Hội đồng, phát biểu tại phiên họp.
Đại tá, GS.TS. Nguyễn Đăng Hội, Viện trưởng Viện Sinh thái Nhiệt đới, Ủy viên Hội đồng, phát biểu.
Phát biểu kết luận, Đại tá, TS. Phạm Duy Nam, Chủ tịch Hội đồng, đánh giá đề tài đã hoàn thành các nội dung nghiên cứu theo kế hoạch; đồng thời ghi nhận khối lượng khảo sát thực địa được nhóm nghiên cứu triển khai trong điều kiện còn nhiều khó khăn. Kết quả của đề tài đã cung cấp thêm dữ liệu về thành phần loài và đề xuất các giải pháp phục vụ bảo tồn khu hệ chim tại Vườn quốc gia Bái Tử Long.
Chủ tịch Hội đồng yêu cầu nhóm nghiên cứu tiếp thu đầy đủ các ý kiến, hoàn thiện báo cáo tổng kết; đồng thời bàn giao các sản phẩm nghiên cứu cho Ban Quản lý Di sản thế giới Vịnh Hạ Long – Yên Tử và hướng dẫn đơn vị khai thác, sử dụng phần mềm quản lý dữ liệu.
Một hướng phát triển tiếp theo được đề xuất là tiếp tục hoàn thiện nội dung để xây dựng và xuất bản Atlas các loài chim ở Vườn quốc gia Bái Tử Long bằng hai ngôn ngữ Việt – Anh, trên cơ sở nhu cầu của cơ quan quản lý.
Nếu được xây dựng trên nền tảng dữ liệu khoa học của đề tài và tiếp tục cập nhật trong những năm tới, Atlas không chỉ là tài liệu nhận diện các loài chim mà còn có thể trở thành công cụ hỗ trợ nghiên cứu, giám sát đa dạng sinh học, giáo dục môi trường và truyền thông bảo tồn tại Vườn quốc gia Bái Tử Long.
Tin bài: Tuấn Minh (Phòng KHKH)
Bài viết liên quan













