TextBody
Ngôn ngữ
Tiếng Việt
Tiếng Nga
Tiếng Anh

Tiếng Việt

Tiếng Việt Tiếng Việt
Tiếng Nga Tiếng Nga
Tiếng Anh Tiếng Anh

Ghi nhận loài Sồi ba cạnh (Trigonobalanus verticillata Forman) quý hiếm cho khu hệ thực vật Kon Khư Kăng, tỉnh Gia Lai

19/09/2026

Trong khuôn khổ chuyến điều tra, khảo sát phục vụ nội dung thử nghiệm nhân giống và xây dựng mô hình trồng phục hồi rừng bằng các loài cây bản địa thuộc đề tài khoa học và công nghệ cấp Trung tâm Nhiệt đới Việt - Nga “Nghiên cứu động thái cấu trúc, tái sinh và hoàn thiện các biện pháp phục hồi rừng tự nhiên tại Khu bảo tồn thiên nhiên Kon Chư Răng và vùng phụ cận, tỉnh Gia Lai”, nhóm nghiên cứu của Trung tâm Nhiệt đới Việt - Nga phối hợp với Viện Nghiên cứu Lâm sinh (Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam) và Trường Đại học Lâm nghiệp đã ghi nhận một quần thể Sồi ba cạnh (Trigonobalanus verticillata Forman) tại khu vực trên tuyến đường vào thác K50 (thác Hang Én). Đây là dữ liệu phân bố có ý nghĩa đối với họ Dẻ (Fagaceae) của khu hệ thực vật Kon Chư Răng, đồng thời góp phần làm rõ đặc điểm phân bố của một chi thực vật cổ, ít loài trong hệ sinh thái rừng thường xanh núi thấp, núi trung bình khu vực Tây Nguyên. 

Kết quả khảo sát tại khu vực nghiên cứu cho thấy, quần thể Sồi ba cạnh có khoảng 60-80 cá thể. Cây trưởng thành có đường kính ngang ngực khoảng 50-80 cm, chiều cao khoảng 20-40 m. Với kích thước quần thể và chỉ tiêu sinh trưởng các cá thể khá lớn cho thấy, quần thể đã tồn tại từ rất lâu và là thành phần quan trọng trong cấu trúc quần xã thực vật rừng tự nhiên, có khả năng cung cấp nguồn hạt giống, cũng như triển vọng bảo tồn nguồn gen cây bản địa quý hiếm tại chỗ. 

Phân loại học

Trigonobalanus verticillata thuộc ngành Ngọc lan (Magnoliophyta), lớp Ngọc lan (Magnoliopsida), bộ Dẻ (Fagales), họ Dẻ (Fagaceae) và chi Trigonobalanus. Chi này được xem là một trong những nhóm có mức độ tiến hóa thấp, mang nhiều đặc điểm nguyên thủy trong họ Dẻ. Trên thế giới, chi Trigonobalanus hiện ghi nhận được ba loài: T. verticillata phân bố ở Đông Nam Á và Hải Nam (Trung Quốc), T. doichangensis ở Trung Quốc - Thái Lan và T. excelsa ở Colombia. Một số hệ thống phân loại trước đây 2 tách ba loài này thành các chi đơn loài (Trigonobalanus, Formanodendron, Colombobalanus); các hệ thống hiện hành như Plants of the World Online vẫn chấp nhận Trigonobalanus verticillata Forman là một trong ba loài của chi Trigonobalanus.

Hình 1. Hình thái lá, quả và hạt loài Sồi ba cạnh (Trigonobalanus verticillata)

Ở Việt Nam, Trigonobalanus verticillata là loài duy nhất được ghi nhận, có tên gọi phổ thông là “Sồi ba cạnh” xuất phát từ quả kiên có mặt cắt ba cạnh rất đặc trưng, khác rõ với quả đấu của các loài Sồi (Quercus) và Dẻ (Lithocarpus, Castanopsis) thường gặp.

Phân bố và sinh thái

Trên thế giới, T. verticillata phân bố rải rác ở Malaysia (bán đảo Mã Lai, Sabah, Sarawak), Indonesia (Sumatra, Sulawesi), Trung Quốc (đảo Hải Nam) và Việt Nam. Ở Việt Nam, loài đã được ghi nhận tại 4 tỉnh, gồm: Lâm Đồng (Khu bảo tồn thiên nhiên Nam Nung và Vườn quốc gia Bidoup - Núi Bà), Gia Lai (khu vực K’Roong, Kon Hà Nừng, Vườn quốc gia Kon Ka Kinh), Kon Tum (khu vực Ngọc Linh, Măng Đen), và Hà Tĩnh (Vườn quốc gia Vũ Quang).

 Hình 2. Hình thái thân cây và sinh cảnh phân bố của loài Sồi ba cạnh (Trigonobalanus verticillata).

Loài sống trong rừng kín thường xanh núi thấp đến núi trung bình, độ cao khoảng 900 - 2.000 m. Cây thường xuất hiện rải rác hoặc thành đám/quần thể trên sườn, đỉnh núi và ven rừng hỗn giao lá rộng - lá kim, đôi khi phân bố cùng các loài Dẻ gai (Castanopsis sp.), Trâm (Syzygium sp.), Thích (Acer sp.) và một số loài cây Hạt trần. Kon Chư Răng nằm trên cao nguyên Kon Hà Nừng, độ cao trung bình 800 - 1.100 m (đỉnh cao nhất đạt 1.452 m), nằm trong dải độ cao phù hợp với thông tin phân bố của loài.

Quần thể được ghi nhận dọc tuyến đường vào thác K50 (còn gọi là thác Hang Én), thuộc sinh cảnh rừng tự nhiên ít bị tác động - vùng lõi của Khu bảo tồn thiên nhiên Kon Chư Răng - Tuyến đường này thường dùng cho tuần tra, nghiên cứu và du lịch sinh thái. Do đó, việc phát hiện quần thể loài Trigonobalanus verticillata ngay trên hành lang này không chỉ bổ sung thông tin dữ liệu về danh lục loài khu hệ thực vật Kon Chư Răng, định vị điểm phân bố của loài mà còn đặt ra yêu cầu trong công tác quản lý, nghiên cứu bảo tồn nguồn gen tại chỗ.

Tình trạng bảo tồn

Ở quy mô toàn cầu, IUCN xếp Trigonobalanus verticillata Forman ở mức NT - (Near Threatened - Sắp bị đe dọa) do diện tích phân bố hẹp, số điểm ghi nhận phân bố hạn chế và đang có xu hướng suy giảm vì khai thác gỗ, mất rừng. Tại Việt Nam, Danh lục Đỏ Việt Nam (2023/2024) xếp loài ở cấp VU (Vulnerable - Sắp nguy cấp), theo tiêu chuẩn A2cd: sinh cảnh bị suy thoái vì khai thác lâm sản và canh tác nông nghiệp; loài bị lấy gỗ đóng đồ gia dụng; quy mô quần thể ước tính giảm hơn 30% trong khoảng 30 năm qua.

Ở cấp quần thể địa phương, với quy mô khoảng 60-80 cá thể, tuy chưa phải quần thể lớn nhất so với các điểm đã công bố như ở Nam Nung với gần 200 cá thể, Vũ Quang khoảng 300-400 cá thể, nhưng với câu trúc cấp đường kính gồm nhiều cây mẹ kích thước lớn khẳng định đây là nguồn gen quý hiếm tại chỗ đáng ghi nhân. Do đó, mọi tổn thất dù chỉ một phần nhỏ cây trưởng thành cũng làm giảm nguồn hạt và khả năng duy trì quần thể.

Giá trị khoa học và bảo tồn

Trigonobalanus verticillata không chỉ là loài gỗ quý hiếm mà còn là “hóa thạch sống” của họ Dẻ (Fagaceae). Chi Trigonobalanus giữ nhiều đặc điểm tổ tiên của nhóm Sồi - Dẻ hiện đại, như: lá mọc vòng, đấu nhiều van, quả ba cạnh. Mỗi quần thể tự nhiên còn cây mẹ lớn đều có giá trị cho nghiên cứu tiến hóa, địa lý thực vật Đông Nam Á và bảo tồn nguồn gen bản địa.

Ghi nhận tại Kon Chư Răng tiếp tục cho thấy khu hệ thực vật Kon Chư Răng thuộc vùng lõi của Khu dự trữ sinh quyển thế giới Cao nguyên Kon Hà Nừng còn tiềm năng bổ sung dữ liệu về phân bố loài cây bản địa quý hiếm, góp phần củng cố vai trò là mẫu chuẩn hệ sinh thái rừng kín thường xanh khu vực Tây Nguyên của Kon Chư Răng.

Khuyến nghị

1. Mở rộng điều tra để xác định đầy đủ quy mô, ranh giới và số tiểu khu có loài Trigonobalanus verticillata phân bố.

2. Lập hồ sơ từng cá thể hoặc từng đám cây: tọa độ, cấp kính, chiều cao, tình trạng sinh trưởng, dấu hiệu khai thác.

3. Đánh giá khả năng ra hoa, kết quả và tái sinh tự nhiên dưới tán.

4. Ưu tiên quản lý, bảo vệ nghiệm ngặt, phòng chống cháy rừng, khai thác gỗ trái phép khu vực quần thể loài phân bố (trên tuyến vào thác K50); Hạn chế tác động khi tổ chức đón khách trên cùng tuyến.

5. Thu hạt, nhân giống thử nghiệm phục vụ nghiên cứu bảo tồn nguồn gen quý hiếm tại chỗ.

Ghi nhận quần thể Trigonobalanus verticillata của nhóm nghiên cứu là cơ sở để bổ sung loài vào danh lục hệ thực vật Kon Chư Răng, định hướng điều tra, nghiên cứu chuyên sâu và xây dựng biện pháp bảo tồn loài phù hợp trong thời gian tới.

Tài liệu tham khảo chính

Hinsinger D.D. & Nguyen M.C., 2019. Trigonobalanus verticillata. The IUCN Red List of Threatened Species 2019: e.T191470A1984594.

Nguyễn Thế Cường, 2023. Trigonobalanus verticillata. Danh lục Đỏ Việt Nam. http://vnredlist.vast.vn

Forman L.L., 1964. Trigonobalanus, a new genus of Fagaceae, with notes on the classification of the family. Kew Bulletin 17: 381–396.

Ng S.C. & Lin J.Y., 2008. A new distribution record for Trigonobalanus verticillata (Fagaceae) from Hainan Island, South China. Kew Bulletin 63: 341–344.

Nixon K.C. & Crepet W.L., 1989. Trigonobalanus (Fagaceae): taxonomic status and phylogenetic relationships. American Journal of Botany 76: 828-841.

Tin bài: Trần Thị Thanh Hương (Viện Sinh thái nhiệt đới)