TextBody

Kết quả nghiên cứu về tăng trưởng một số loài động vật thân mềm chân bụng vùng biển miền Trung Việt Nam

25/02/2026

Động vật thân mềm chân bụng (Gastropoda) là một trong những nhóm không xương sống có thành phần loài cao. Theo thống kê của FAO năm 2025, thế giới đã ghi nhận hơn 110.000 loài [1]. Trong các hệ sinh thái biển nhiệt đới, đặc biệt là hệ sinh thái rạn san hô, nhóm này chiếm tỷ lệ lớn về thành phần loài và giữ vai trò sinh thái quan trọng trong việc duy trì cấu trúc và chức năng của quần xã [2].

Bên cạnh đó, thân mềm chân bụng tham gia vào nhiều bậc dinh dưỡng trong lưới thức ăn rạn san hô, từ nhóm ăn tảo, ăn mùn bã hữu cơ đến nhóm ăn thịt và ăn san hô. Nhờ đó, chúng góp phần điều hòa sinh khối tảo, tái chế vật chất hữu cơ và kiểm soát quần thể sinh vật đáy [3], [4]. Sau khi chết, vỏ cacbonat của chúng tiếp tục tham gia vào chu trình trầm tích cacbonat, đóng góp vật liệu sinh học cho quá trình hình thành và củng cố nền đáy rạn [5]. Đặc biệt, do nhạy cảm với các biến động môi trường như nhiệt độ, độ mặn, axit hóa đại dương và ô nhiễm, nhóm này được xem là sinh vật chỉ thị phản ánh tình trạng sức khỏe của hệ sinh thái rạn san hô [6]. Những thay đổi về thành phần loài, mật độ và cấu trúc quần thể có thể cung cấp tín hiệu sớm về suy thoái môi trường biển dưới tác động của biến đổi khí hậu và các yếu tố nhân sinh.

Hình 1. Động vật thân mềm chân bụng (Gastropoda).

Tại vùng biển miền Trung Việt Nam, nhiều loài chân bụng phân bố phổ biến trong các hệ sinh thái rạn san hô và ven bờ. Tuy nhiên, thông tin về tuổi và đặc điểm tăng trưởng của chúng còn hạn chế. Việc xác định cấu trúc tuổi và mô hình tăng trưởng vì vậy có ý nghĩa quan trọng trong quản lý nguồn lợi và bảo tồn hệ sinh thái.

Trong nghiên cứu này, nhóm nhà khoa học thuộc Chi nhánh Ven biển/Trung tâm Nhiệt đới Việt - Nga bước đầu tập trung vào ba loài tiêu biểu gồm Ovula ovum, Drupella cornusRapana rapiformis. Trong đó, Ovula ovumDrupella cornus là những loài sống chủ yếu ở hệ sinh thái rạn san hô [7]. Ovula ovum tiêu thụ san hô mềm, trong khi Drupella cornus được ghi nhận là một trong những loài ăn san hô cứng có khả năng gây tổn hại đáng kể cho rạn [8]. Rapana rapiformis là loài có giá trị thương mại, phân bố phổ biến tại nhiều khu vực ven biển miền Trung [9].

  

Hình 2. Loài Ovula ovum, Drupella cornus và Rapana rapiformis.

Để xác định tuổi và đặc điểm tăng trưởng, nhóm nghiên cứu sử dụng các cấu trúc cứng gồm vỏ, nắp vỏ và đặc biệt là đá tai (statolith). Tổng cộng 117 đá tai đã được tách chiết, xử lý và quan sát dưới kính hiển vi. Sau quá trình kiểm tra chất lượng mẫu, loại bỏ các mẫu nứt vỡ, mờ vòng hoặc khó xác định nhân trung tâm, 106 đá tai đạt tiêu chuẩn và được đưa vào phân tích mô hình tăng trưởng.

Kết quả cho thấy cả ba loài đều có cấu trúc đá tai; tuy nhiên, ở Rapana rapiformis, kích thước đá tai quá nhỏ nên chưa đủ độ phân giải để đọc vòng tuổi một cách tin cậy. Do đó, mô hình tăng trưởng chủ yếu được xây dựng dựa trên dữ liệu của Drupella cornusOvula ovum.

Hình 3. Xử lý mẫu thu các cấu trúc vỏ, nắp và đá tai của thân mềm chân bụng.

Qua quan sát, đá tai có dạng gần hình cầu, bề mặt nhẵn. Trên lát cắt mỏng, cấu trúc gồm một nhân trung tâm màu sẫm, bao quanh bởi các vòng đồng tâm sáng, tối xen kẽ. Các vòng này được hình thành do biến động trao đổi chất theo mùa và quá trình tăng trưởng liên tục của cá thể.

Ngoài các vòng tuổi hằng năm, còn ghi nhận các vòng đánh dấu giai đoạn chuyển từ ấu trùng sống trôi nổi sang sống đáy và các vòng liên quan đến giai đoạn sinh sản. Trong phạm vi mẫu phân tích (106 đá tai đạt chuẩn), tuổi ghi nhận nhỏ nhất khoảng 4 năm và lớn nhất khoảng 9 năm. Đây là tuổi tối đa quan sát được trong mẫu nghiên cứu, song không phải tuổi thọ tối đa của loài trong tự nhiên.

Phân tích số liệu ghi nhận có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) giữa cá thể đực và cái về chiều rộng vỏ (31,2-53,3 mm), khối lượng toàn thân (11-77 g) và khối lượng vỏ (5-39,6 g), trong đó cá thể đực thường có vỏ dày và nặng hơn. Tuy nhiên, không ghi nhận sự khác biệt về chiều cao vỏ (54,4-89,5 mm) và khối lượng phần thân mềm (3,6-37,4 g).

Hình 4. Các cấu trúc đá tai của Drupella cornus, Ovula ovum.

Những kết quả ban đầu cho thấy phương pháp phân tích đá tai là hướng tiếp cận khả thi trong nghiên cứu tuổi và tăng trưởng của thân mềm chân bụng tại vùng biển miền Trung. Trong thời gian tới, nhóm nghiên cứu sẽ tiếp tục xác định tuổi sinh sản, kích thước sinh sản lần đầu, chu kỳ và mùa vụ sinh sản nhằm hoàn thiện cơ sở dữ liệu sinh học phục vụ quản lý nguồn lợi và bảo tồn hệ sinh thái rạn san hô vùng biển miền Trung Việt Nam.

Tin bài: Đinh Thị Hải Yến (Chi nhánh Ven biển)

Tài liệu tham khảo

1. FAO (2025). FAO Species Catalogue and Global Marine Biodiversity Statistics. Rome: Food and Agriculture Organization of the United Nations.

2. Gosliner, T. M., Behrens, D. W., & Valdés, Á. (2018). Indo-Pacific Nudibranchs and Sea Slugs: A Field Guide to the World’s Most Diverse Fauna. California Academy of Sciences.

3. Hughes, T. P., Rodrigues, M. J., Bellwood, D. R., et al. (2007). Phase shifts, herbivory, and the resilience of coral reefs to climate change. Current Biology, 17, 360-365.

4. Perry, C. T., Murphy, G. N., Kench, P. S., et al. (2012). Caribbean-wide decline in carbonate production threatens coral reef growth. Nature Communications, 3, 1402.

5. Ellis, R. P., Spicer, J. I., Byrne, J. J., et al. (2015). 1H NMR metabolomics reveals contrasting response by male and female mussels exposed to reduced seawater pH, increased temperature and a pathogen. Environmental Science & Technology, 49, 7047-7056.

6. Bellwood, D. R., Hughes, T. P., Folke, C., & Nyström, M. (2004). Confronting the coral reef crisis. Nature, 429, 827-833.

7. Ratianingsih, R., Putra, I. N. G., & others (2017). Feeding preference and predation impact of corallivorous gastropods on coral reefs. AACL Bioflux, 10(5), 1234-1243.

8. Nicolet, K. J., Hoogenboom, M. O., & Gardiner, N. M. (2013). Corallivory by Drupella spp. facilitates the transmission of coral diseases. Coral Reefs, 32, 585-595.

9. Đỗ, T. H., Nguyễn, T. T., & Lê, X. T. (2015). Đa dạng động vật thân mềm biển Việt Nam. Tạp chí Sinh học, 37(2), 123-135.

10. Nocella, A., et al. (2024). Biological and ecological traits of corallivorous gastropods in Indo-Pacific reefs. Marine Environmental Research, 198, 106-118.