TextBody
Ngôn ngữ
Tiếng Việt
Tiếng Nga
Tiếng Anh

Tiếng Việt

Tiếng Việt Tiếng Việt
Tiếng Nga Tiếng Nga
Tiếng Anh Tiếng Anh

Mô hình thử nghiệm phục hồi rừng theo nguyên lý Miyawaki - một “phòng thí nghiệm sống” cho kỹ thuật phục hồi rừng nhiệt đới ở Việt Nam

19/09/2026

Với quan điểm phục hồi rừng không đơn thuần là trồng cây với mật độ cao, sinh trưởng nhanh, mà là thúc đẩy quá trình diễn thế phục hồi hệ sinh thái rừng đa dạng, nhiều tầng tán ổn định và khả năng tự duy trì theo hướng gần với cấu trúc, chức năng của rừng tự nhiên, nhóm nghiên cứu gồm các nhà khoa học Việt Nam và Liên bang Nga (Trung tâm Nhiệt đới Việt - Nga) đã vận dụng nguyên lý Miyawaki trong nghiên cứu kỹ thuật phục hồi rừng nhiệt đới tại khu vực Kon Chư Răng và vùng phụ cận. Nhiều loài cây bản địa được nhân giống từ nguồn vật liệu tại chỗ, sau đó trồng hỗn giao với mật độ cao. Một mục tiêu quan trọng là rút ngắn giai đoạn đầu của quá trình hình thành thảm thực vật rừng thứ sinh phục hồi, đồng thời hạn chế sự phát triển của các loài cỏ dại và dây leo gây cản trở.

Mô hình thử nghiệm phục hồi rừng được triển khai theo quy trình thu hái vật liệu, nhân giống và sử dụng cây giống tại chỗ, với hai công thức mật độ khác nhau: Công thức 1 (tháng 11/2023) có mật độ 20.000 cây/ha, gồm 300 cây giống của 10 loài; Công thức 2 (tháng 11/2024) có mật độ 10.000 cây/ha, gồm 560 cây giống của 22 loài cây bản địa. Cây giống có độ tuổi 1-2 năm, chiều cao trung bình 30-50 cm. Dữ liệu quan trắc định kỳ mô hình thử nghiệm cho thấy nhiều loài cây có khả năng thích nghi tốt; tỷ lệ sống sau gần 3 năm đạt 72% (ở Công thức 1) và trên 78% sau gần 2 năm (ở Công thức 2). Thảm thực vật có sự chuyển đổi rõ rệt từ trạng thái trảng cỏ, dây leo, cây bụi sang quần xã thực vật thứ sinh phục hồi (Hình 1-8).

 Hình 1-2. Mô hình thử nghiệm được triển khai
(A - Công thức 1, tháng 11/2023 và B - Công thức 2, tháng 11/2024).

Hình 3-4. Mô hình thử nghiệm sau 1 năm trồng phục hồi.

Hình 5-6. Mô hình thử nghiệm sau gần 2 năm trồng phục hồi.

Kết quả quan trắc bước đầu chưa đủ cơ sở để đánh giá riêng ảnh hưởng của mật độ đến tỷ lệ sống, sinh trưởng của cây trồng cũng như hiệu quả phục hồi rừng. Tuy nhiên, ở cả hai công thức, khoảng dao động về sinh trưởng giữa các loài tương đối lớn; một số loài đạt chiều cao tới 4 m và đường kính trên 4 cm sau 3 năm trồng.

Hình 7-8. Thảm thực vật chuyển trạng thái rõ rệt sau 3 năm trồng phục hồi.

Nhóm loài tiên phong, bao gồm các loài sinh trưởng nhanh như Liên đằng (Litsea cubeba) và Xoan nhừ (Choerospondias axillaris) đã khép tán; ở một số cá thể đường kính thân đạt 6,7 cm, chiều cao tới 5,6 m sau 21 tháng trồng. Ngược lại, nhóm sinh trưởng chậm, điển hình là một số loài như Chôm chôm rừng (Nephelium cuspidatum), Xoay (Dialium cochinchinensis), Còng (Calophyllum)… có mức sinh trưởng chậm; đường kính trung bình không vượt quá 1,1 cm, chiều cao dưới 1 m.

Sự khác biệt về đặc điểm sinh học và sinh thái khi được kết hợp trong cùng điều kiện lập địa hình thành các nhóm loài có tốc độ sinh trưởng khác nhau. Tại thời điểm quan trắc, nhóm cây tiên phong sinh trưởng nhanh giữ vai trò sinh thái chủ đạo, góp phần nhanh chóng tăng độ che phủ mặt đất, qua đó hạn chế sự phát triển của dây leo và cỏ dại. Bên cạnh đó, nhóm cây diễn thế chậm đã và đang từng bước góp phần hình thành quần xã thực vật rừng có cấu trúc nhiều tầng và đa dạng về thành phần loài.

Điểm nổi bật của mô hình thử nghiệm không chỉ ở việc bảo tồn nguồn gen hay trồng thử nghiệm từng loài, mà còn tạo lập một môi trường thực nghiệm gần với điều kiện tự nhiên cho nhiều loài cây bản địa. Mô hình đã cung cấp dữ liệu thực tế về khả năng thích nghi và sinh trưởng của từng loài trong điều kiện lập địa cụ thể. Trên cơ sở tỷ lệ sống và tốc độ sinh trưởng của các loài qua từng giai đoạn, đây là nguồn dữ liệu khoa học quan trọng giúp các nhà khoa học, nhà quản lý xác định được các loài thích nghi tốt, nhóm loài tiên phong và nhóm loài diễn thế chậm; từ đó có thể điều chỉnh cơ cấu loài, mật độ và kỹ thuật chăm sóc nhằm thúc đẩy quá trình diễn thế phục hồi rừng tự nhiên.

Song, kết quả đánh giá các mô hình thử nghiệm ở giai đoạn hiện tại nên được xem là những bằng chứng ban đầu về khả năng thích nghi và sinh trưởng của các loài được lựa chọn, đồng thời là cơ sở để tiếp tục hoàn thiện kỹ thuật phục hồi rừng. Cần duy trì các nghiên cứu, quan trắc trong các giai đoạn tiếp theo, tập trung vào sự hình thành và liên kết các tầng tán, đặc điểm và diễn biến thảm cỏ, dây leo, cây bụi, cây tái sinh tự nhiên và vật rơi rụng dưới tán… Một hệ sinh thái rừng có khả năng tự phục hồi và duy trì cần thời gian đủ dài để hình thành tầng tán ổn định, khả năng tái sinh tự nhiên, tích lũy vật chất hữu cơ trong đất và phát triển mạng lưới sinh vật đất. Vì vậy, các mô hình thử nghiệm cần được duy trì và quan trắc trong nhiều năm, thậm chí nhiều thập kỷ, để đánh giá đầy đủ hơn quá trình diễn thế và mức độ bền vững của phục hồi rừng./.

Tin bài: Trần Thị Thanh Hương (Viện Sinh thái nhiệt đới)