Nghiệm thu đề tài về nghiên cứu đa dạng thành phần loài và mối quan hệ di truyền của các loài trong bộ Rết lớn ở Việt Nam
05/01/2026Chiều ngày 05/01, tại Trung tâm Nhiệt đới Việt - Nga (Trung tâm), diễn ra buổi nghiệm thu đề tài khoa học “Nghiên cứu đa dạng thành phần loài và mối quan hệ di truyền của các loài trong bộ Rết lớn (Myriapoda: Chilopoda: Scolopendromorpha) ở Việt Nam”. Đề tài do Viện Sinh thái nhiệt đới là đơn vị chủ trì; Thiếu tá, TS. Lê Xuân Sơn là chủ nhiệm.

Quang cảnh buổi nghiệm thu.
Đại tá, GS. TS. Nguyễn Đăng Hội - Chủ tịch Hội đồng chủ trì phiên họp. Tham gia phiên họp có các thành viên Hội đồng, đại diện cơ quan quản lý khoa học, đơn vị chủ trì và nhóm thực hiện nhiệm vụ.

Đại tá, GS. TS. Nguyễn Đăng Hội - Chủ tịch Hội đồng.
Mục tiêu của đề tài nhằm đánh giá được sự đa dạng, đặc điểm phân bố và mối quan hệ di truyền của các loài thuộc bộ Rết lớn (Scolopendromorpha) ở Việt Nam. Đồng thời bước đầu đánh giá khả năng kháng khuẩn và ức chế enzym của nọc độc rết, định hướng cho việc phát triển thuốc có nguồn gốc thiên nhiên.

TS. Lê Xuân Sơn báo cáo kết quả nghiên cứu trước Hội đồng.
Theo kết quả nghiên cứu, đề tài đã xác lập danh lục gồm 40 loài và phân loài, thuộc 9 giống và 3 họ của bộ Rết lớn (Scolopendromorpha) ở Việt Nam; trong đó 01 loài mới được mô tả cho khoa học và 01 loài được ghi nhận là loài nghi ngờ mới (Scolopendra sp.). Các loài rết phân bố ở nhiều kiểu sinh cảnh khác nhau, trong đó đa dạng nhất ở rừng lá rộng, tiếp đến là rừng hỗn giao lá rộng - tre nứa và khu dân cư - đất canh tác; ít gặp hơn ở các kiểu rừng khác.
Về phân bố theo độ cao, sự đa dạng loài cao tập trung từ 300-1.000 m và giảm dần ở các đai khác, trong đó ở độ cao trên 1.600m chỉ ghi nhận một số loài đặc trưng cho vùng núi cao, chủ yếu thuộc giống Scolopocryptops. Về mặt địa lý, Tây Nguyên có mức độ đa dạng cao nhất, tiếp theo là Bắc Trung Bộ và Tây Bắc Bộ, trong khi khu vực Nam Bộ kém đa dạng nhất.
Phân tích quan hệ di truyền cho thấy khoảng cách di truyền nội loài biến động khá lớn (COI: 0,0–15,7%; 16S rRNA: 0,0–8,7%; COI–16S rRNA: 0,1–11,5%), tuy nhiên các loài vẫn hình thành các nhánh di truyền riêng biệt rõ ràng. Việc kết hợp nhiều đoạn gen đã nâng cao độ tin cậy của kết quả phân tích so với sử dụng đơn lẻ từng gen.
Bên cạnh đó, đề tài đã đánh giá hoạt tính sinh học của nọc độc rết. Kết quả cho thấy nọc rết có khả năng kháng khuẩn tốt đối với các chủng vi khuẩn E. coli, P. aeruginosa, E. faecalis, B. cereus với giá trị MIC dao động từ 4-16 µg/ml; đối với chủng nấm C. albicans cho thấy mức độ nhạy cảm thấp hơn, thể hiện qua giá trị MIC cao (128-256 µg/ml). Điều này cho thấy nọc rết chứa các peptide hoặc hợp chất có tiềm năng kháng khuẩn tự nhiên. Tuy nhiên, trong các thí nghiệm đánh giá khả năng ức chế enzyme acetylcholinesterase, không ghi nhận hoạt tính ức chế của nọc rết tại các nồng độ khảo sát.
Kết quả nghiên cứu được công bố trên 03 bài báo thuộc danh mục SCIE/Scopus (có chỉ số Q3 trở lên) và 03 bài báo trên các tạp chí khoa học chuyên ngành uy tín trong nước, đồng thời hỗ trợ đào tạo 01 tiến sĩ ngành Sinh học và 01 cử nhân ngành Sinh học/Đại học Sư phạm Hà Nội.

Thành viên Hội đồng nhận xét, đánh giá.
Tại buổi nghiệm thu, Hội đồng cũng tiến hành thảo luận, phản biện khoa học và đóng góp các ý kiến nhằm làm rõ hơn giá trị khoa học, tính mới, độ tin cậy của các kết quả nghiên cứu, đồng thời đề xuất một số định hướng nghiên cứu mở rộng trong thời gian tới.

Thành viên Hội đồng nhận xét, đánh giá.
Hội đồng khoa học đánh giá đề tài đã thực hiện đầy đủ các nội dung nghiên cứu, hoàn thành các sản phẩm theo đúng thuyết minh được phê duyệt, trong đó một số nội dung đạt kết quả vượt chỉ tiêu. Đề tài có tính hệ thống cao, giá trị khoa học và thực tiễn rõ nét, đặc biệt có ý nghĩa đối với lĩnh vực quân sự, quốc phòng.
Kết quả nghiên cứu được xây dựng trên cơ sở khối lượng mẫu vật lớn, thu thập tại nhiều khu vực sinh thái và địa bàn khác nhau trên cả nước, bảo đảm tính đại diện, độ tin cậy và giá trị khoa học cao. Các dữ liệu thu được đã hình thành nguồn tư liệu nền tảng về đa dạng sinh học, nguồn gen và phân bố các loài rết lớn ở nhiều khu vực tự nhiên, đặc biệt là các vùng rừng, vùng biên giới, miền núi và những khu vực có ý nghĩa chiến lược về quân sự, quốc phòng. Đây là cơ sở khoa học quan trọng phục vụ công tác quản lý tài nguyên sinh học, bảo tồn thiên nhiên, bảo vệ lãnh thổ, đồng thời góp phần tạo lập căn cứ khoa học cho công tác sử dụng đất và bảo vệ môi trường tại các khu vực trọng yếu.
Bên cạnh đó, các kết quả nghiên cứu về tiềm năng sinh học của nọc độc rết mở ra định hướng cho các nghiên cứu và ứng dụng trong lĩnh vực y - sinh học, góp phần bảo đảm sức khỏe cho bộ đội và nhân dân trong điều kiện môi trường nhiệt đới.
Hội đồng nhất trí nghiệm thu đề tài và đánh giá xếp loại mức “Xuất sắc”; đề nghị đơn vị chủ trì và chủ nhiệm đề tài hoàn thiện báo cáo tổng kết và các sản phẩm, tài liệu, trình phê duyệt theo quy định./.
Bài viết liên quan














